TÓM TẮT NHANH:
- Cấu tạo lò hơi tầng sôi gồm 7 cụm, từ cấp liệu đến điều khiển an toàn.
- Cụm đặc trưng nhất là buồng đốt chứa lớp vật liệu nền, thường là cát thạch anh.
- Ghi phân phối gió và béc phun gió quyết định lớp sôi có đều hay không.
- Lò tầng sôi tuần hoàn (CFB) có thêm cyclone, siphon và ống hồi liệu.
- Tài liệu ngoài đếm 5, 6 hoặc 7 cụm vì phạm vi tính khác nhau, không phải vì lò khác nhau.
- Béc phun gió và vật liệu chịu lửa là hai chỗ hao mòn sớm nhất, xem mục 5.
Cấu tạo lò hơi tầng sôi gồm 7 cụm thiết bị chính: hệ thống cấp liệu, buồng đốt tầng sôi, hệ thống cấp gió, cụm sinh hơi, cụm thu hồi nhiệt, hệ thống thải xỉ và xử lý khói thải, hệ thống điều khiển an toàn.
Bài viết này đưa ra sơ đồ tổng thể, rồi chú giải từng cụm theo cùng một khuôn: cụm đó nằm ở đâu, làm nhiệm vụ gì, và khi hỏng thì bạn nhận ra bằng hiện tượng nào. Cuối bài là bảng so sánh cấu tạo hai dòng lò tầng sôi phổ biến và danh sách những bộ phận hao mòn sớm nhất.
1. Sơ đồ cấu tạo lò hơi tầng sôi
Sơ đồ cấu tạo lò hơi tầng sôi gồm 7 cụm thiết bị được bố trí theo hai dòng chạy song song trong lò: dòng nhiên liệu và khói đi một đường, dòng nước và hơi đi một đường khác. Nắm được hai trục này thì nhìn bản vẽ nào cũng định vị được.
Bảy cụm thiết bị chính:
- Hệ thống cấp liệu
- Buồng đốt tầng sôi và lớp vật liệu nền
- Hệ thống cấp gió và khói
- Cụm sinh hơi
- Cụm thu hồi nhiệt
- Hệ thống thải xỉ và xử lý khói thải
- Hệ thống điều khiển và thiết bị an toàn
Đọc theo dòng nhiên liệu. Nhiên liệu từ phễu chứa đi qua hệ thống cấp liệu vào buồng đốt (cụm 1 sang cụm 2). Tại đây nhiên liệu cháy trong lớp vật liệu nền được làm sôi bằng gió cấp 1 (cụm 3). Phần tro nặng rơi xuống đáy và được tháo qua hệ thống thải xỉ, phần bụi nhẹ bay theo khói qua cyclone và thiết bị lọc bụi trước khi ra ống khói (cụm 6).
Đọc theo dòng nước và hơi. Nước cấp đi qua bộ hâm nước để được sấy nóng bằng nhiệt khói thải (cụm 5), rồi vào balong hơi. Từ balong, nước chảy xuống các dàn ống bao quanh buồng đốt, nhận nhiệt, sôi và quay lại balong để tách hơi (cụm 4). Hơi bão hoà ra khỏi balong đi tới hộ tiêu thụ.
Cụm 7 không nằm trên hai dòng này. Nó giám sát cả hai, và là cụm duy nhất trong bảy cụm không trực tiếp tham gia vào quá trình cháy hay sinh hơi.

Hệ thống cấp liệu
Cụm này nằm ở phía ngoài thân lò, gồm phễu chứa, vít tải hoặc băng tải, bộ định lượng và cửa cấp liệu vào buồng đốt. Với lò hơi tầng sôi, số lượng và vị trí cửa cấp liệu quan trọng hơn hẳn so với lò ghi, vì nhiên liệu phải được rải đều trên mặt lớp sôi thay vì đổ dồn một chỗ.
Khi cụm cấp liệu có vấn đề, hiện tượng dễ nhận ra nhất là áp suất hơi dao động dù tải không đổi. Nếu cửa cấp liệu bị nghẹt một bên, nhiệt độ đo tại các điểm khác nhau của lớp sôi sẽ lệch nhau rõ rệt, và vùng bị dồn nhiên liệu là nơi kết xỉ xuất hiện đầu tiên.
Nhiên liệu ẩm và vụn như dăm gỗ tươi hay mùn cưa dễ đóng bánh trong phễu, nên các thiết kế cho nhóm nhiên liệu này thường có thêm cơ cấu phá vòm trong phễu chứa. Không như các lò hơi kiểu cũ (lò ghi xích và ghi tĩnh), nhiên liệu cấp cho lò hơi tầng sôi đòi hỏi phải có kích thước đồng đều và độ lớn theo quy định nhằm đạt được điều kiện đốt cháy tối ưu. Hệ thống cấp liệu đưa nhiên liệu từ kho vào buồng đốt theo lưu lượng khớp với nhu cầu hơi tại từng thời điểm.
Đối với than, giới hạn kích thước là 0-10mm. Đối với biomass nói chung, giới hạn kích thước là 0-50mm. Nhiên liệu có thể được vận chuyển bằng băng tải, vít, gàu tải… tới các si lô chứa để dự trữ hoặc cấp trực tiếp đến lò hơi. Tùy theo loại nhiên liệu hoặc bố trí mặt bằng mà hệ thống cấp liệu sẽ được thiết kế để tối ưu nhất. Hệ thống cấp liệu có thể có thêm các thiết bị cảm biến đo khối lượng (loadcell) lắp trên các phễu chứa nhiên liệu hay lắp trên băng tải nhiên liệu để đo lường lượng nhiên liệu cấp vào lò, phục vụ cho việc tính tiêu hao nhiên liệu và hiệu suất của lò hơi.
Đối với lò tầng sôi, nhiên liệu cấp vào lò có thể được phun bên trên mặt lớp sôi hoặc cấp từ bên dưới lớp sôi. Kiểu cấp liệu bên dưới lớp sôi chỉ được sử dụng đối với than đá đã qua nghiền sơ bộ với kích thước nhỏ và hiếm gặp trên thực tế.
Một số lò hơi đốt các loại nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao sẽ cần cấp thêm đá vôi để xử lý nhằm giảm phát thải khí SOx. Các chất hấp thụ này sẽ được nghiền xuống cỡ hạt khoảng 0 – 6mm và phun vào buồng đốt.

Buồng đốt tầng sôi
Buồng đốt là cụm đặc trưng nhất và cũng là thứ phân biệt lò tầng sôi với mọi loại lò hơi còn lại.
Buồng đốt nằm ở phần dưới của thân lò. Đáy buồng đốt chứa lớp vật liệu nền, phổ biến nhất là cát thạch anh. Một số thiết kế trộn thêm đá vôi hoặc dolomit để giữ lưu huỳnh ngay trong buồng đốt. Lớp vật liệu này không phải nhiên liệu, nó chỉ tích nhiệt và truyền nhiệt.
Vai trò của lớp vật liệu nền là làm kho nhiệt. Khi nhiên liệu ẩm rơi vào, nhiệt tích trong cát sấy khô và bắt lửa nhiên liệu gần như tức thì. Đây là lý do lò tầng sôi đốt được nhiên liệu mà lò ghi phải chật vật.
Phần tường buồng đốt tiếp xúc trực tiếp với lớp sôi được bọc vật liệu chịu lửa, vì đây là vùng chịu mài mòn nặng nhất trong cả lò. Khi lớp chịu lửa mỏng dần mà không phát hiện kịp, dấu hiệu là nhiệt độ vỏ ngoài thân lò ở vùng đó nóng lên bất thường, và tiếp theo là ống sinh hơi phía sau bị bào mòn rồi thủng.
Lớp vật liệu nền cũng bị hao theo thời gian do vỡ vụn và theo tro ra ngoài, nên phải bổ sung định kỳ. Khi lượng cát tụt dưới mức thiết kế, chênh áp qua lớp sôi giảm và lớp sôi mất độ đều.
Một tập hợp các hạt rắn sẽ trở thành tầng sôi khi có một lượng khí áp suất cao được đưa vào từ mặt dưới của lớp hạt rắn và làm cho lớp hạt rắn ứng xử như chất lỏng: Các vật thể có khối lượng riêng lớn hơn lớp hạt rắn sẽ chìm xuống còn vật thể có khối lượng riêng nhỏ hơn sẽ nổi (định luật Archimedes).
Độ sôi của lớp hạt rắn phụ thuộc rất lớn vào kích thước hạt và vận tốc sôi. Vận tốc sôi của lớp hạt rắn tăng chậm hơn so với tốc độ của dòng khí đi trong đó. Sự chênh lệch tốc độ này được gọi là vận tốc trượt. Vận tốc trượt càng lớn thì khả năng hòa trộn nhiên liệu càng tốt và hiệu quả cháy sẽ càng cao.
Buồng đốt của lò BFB thường bao gồm một lớp nền sôi thấp và một khu vực trống bên trên (Freeboard). Năng lượng giải phóng từ quá trình đốt cháy nhiên liệu được phân chia giữa khu vực bên dưới và khu vực bên trên của buồng đốt theo tỷ lệ 88:12. Nghĩa là năng lượng tập trung chủ yếu ở khu vực lớp sôi. Nhiệt độ lớp sôi đối với lò BFB đốt than được duy trì trong khoảng 800 – 900oC bằng cách trích xuất lượng nhiệt phù hợp. Tuy nhiên, đối với lò đốt biomass, nhiệt độ lớp sôi phải được giữ ở dưới 750oC để tránh đóng keo lớp nền trong buồng đốt, do hàm lượng hợp chất Natri và Kali trong biomass cao sẽ làm giảm nhiệt độ nóng chảy của lớp nền.
Đối với than nhiệt lượng cao, phương pháp phổ biến để giữ nhiệt độ lớp nền trong khoảng yêu cầu là thêm chùm ống bức xạ ngâm trong lớp sôi. Chùm ống này có thể là ống sinh hơi hoặc ống quá nhiệt. Tuy nhiên vì tiếp xúc trực tiếp với các hạt rắn chuyển động nên tuổi thọ của các chùm ống này thường thấp và phải kiểm tra thay thế thường xuyên. Một số cách khác để kiểm soát nhiệt độ lớp nền là tuần hoàn xỉ với bộ giải nhiệt nằm bên ngoài hay tuần hoàn khói…
Đối với than nhiệt lượng trung bình và thấp, chùm ống bức xạ cũng có thể được sử dụng, tuy nhiên, có một phương pháp khác là tăng chiều cao sôi của lớp nền. Buồng đốt dạng này được gọi là buồng đốt sôi rối (tubulen) và có tốc độ sôi nằm giữa sôi bọt và sôi tuần hoàn. Loại lò hơi tầng sôi tubulen có buồng đốt được bao quanh bởi ống sinh hơi, lợi dụng độ sôi cao để hấp thụ lượng nhiệt sinh ra, từ đó kiểm soát được nhiệt độ buồng đốt. Lợi ích của phương pháp này là tuổi thọ buồng đốt cao, dễ dàng thao tác vận hành và bảo trì. Tuy nhiên nhược điểm là chiều cao lò hơi tăng, cần có hệ tuần hoàn tro khi yêu cầu hiệu suất cao.
Buồng đốt lò hơi tầng sôi yêu cầu phải có vật liệu chịu lửa bao quanh (gạch hoặc bê tông) kể cả đối với buồng đốt vách ướt để đảm bảo tuổi thọ buồng đốt và bảo vệ các ống vách ướt khỏi mài mòn và quá nhiệt. Lớp bê tông cách nhiệt có thể yêu cầu dày hơn đối với biomass như trấu rời để dễ kiểm soát nhiệt độ buồng đốt hơn.
Chiều cao lớp vật liệu nền thường từ 120 – 400mm, kích thước phổ biến của hạt rắn từ 0.8-1.2mm và khối lượng riêng từ 1500 – 2400kg/m3. Cát, xỉ hoặc đá dolomit, đá vôi đều có thể dùng làm vật liệu nền.
Tỷ lệ nhiên liệu và vật liệu nền trong buồng đốt tầng sôi thường từ 1-5%. Tỷ lệ vật liệu nền trong hỗn hợp cháy rất lớn nên khả năng giữ nhiệt của lò tầng sôi rất tốt. Vì vậy lò tầng sôi có thể đốt được rất nhiều loại nhiên liệu như than, biomass, bùn giấy, rác thải… với lượng phát thải khí độc vẫn nằm trong tiêu chuẩn cho phép.
Hệ thống cấp gió và khói
Hệ thống cấp gió tạo ra trạng thái tầng sôi, nên nó quyết định chất lượng cháy nhiều hơn bất kỳ cụm nào khác.
Gió cấp một tạo lớp sôi (Primary Air) được gia nhiệt khi đi qua bộ sấy không khí và đi vào buồng phân phối gió dưới đáy lò. Mặt trên buồng phân phối gió có rất nhiều béc phun nhằm phân đều lượng gió cấp ra khắp bề mặt buồng đốt giúp buồng đốt sôi đều. Các béc phun cũng ngăn các hạt rắn trong lớp sôi lọt vào buồng cấp gió. Thiết kế hệ thống phân phối gió để buồng đốt sôi đều là cực kỳ quan trọng đối với lò tầng sôi.
Gió cấp hai (Secondary Air) sẽ được cấp vào bên trên vùng buồng đốt trống để cấp thêm oxy nhằm đốt cháy các chất bốc bị đẩy lên cao. Tùy theo loại nhiên liệu mà gió cấp hai có thể chiếm tỷ trọng cao hay thấp hoặc có thể bị loại bỏ.
Nhiệt lượng do khói nóng khi đi từ buồng đốt dưới đến buồng đốt trên sẽ bị hấp thu bởi các tường nước xung quanh buồng đốt, sau khi qua khỏi khu vực buồng đốt, nhiệt độ khói giảm xuống khoảng 600oC. Khói tiếp tục đi qua vùng đối lưu và truyền nhiệt lượng cho các ống nước trong khu vực này trước khi ra khỏi lò. Sau đó, khói nóng đi qua bộ hâm nước, bộ sấy không khí rồi đến hệ thống xử lý khói. Sau khi đạt các tiêu chuẩn môi trường, khói được đẩy lên ống khói và thải ra ngoài không khí.
Hệ thống thải xỉ và khói thải
Cụm này xử lý hai dòng chất thải mà mọi lò hơi đốt nhiên liệu rắn đều sinh ra: tro xỉ đáy lò và bụi bay theo khói.
Phần thải xỉ nằm ở đáy buồng đốt, gồm cửa tháo xỉ và vít tải xỉ hoặc băng tải xỉ. Phần xử lý khói thải nằm trên đường khói cuối, gồm cyclone tách bụi thô và thiết bị lọc bụi tinh, thường là lọc bụi túi vải hoặc lọc bụi tĩnh điện.
Với lò hơi tầng sôi, việc tháo xỉ đáy có thêm một vai trò mà lò ghi không có: loại bỏ phần cát nền đã bị bám dính hoặc vỡ vụn, giữ cho lớp sôi luôn tơi. Vì vậy lượng xỉ tháo ra và lượng cát bổ sung vào phải được theo dõi song song.
Lò tầng sôi giúp giảm SO₂ và NOx ngay trong buồng đốt nhờ nhiệt độ cháy thấp và khả năng trộn đá vôi vào lớp nền, nhưng bụi thì vẫn phải xử lý bằng thiết bị lọc riêng.
Dấu hiệu cụm này có vấn đề thấy được bằng mắt: khói ống khói đậm màu hơn bình thường. Với lọc bụi túi vải, chênh áp qua túi tăng dần là dấu hiệu túi bị bít, còn chênh áp tụt đột ngột thường báo túi đã rách.
Hệ xử lý khói có thể bao gồm các thiết bị lọc bụi như Cyclone, Ventury, Lọc bụi túi, Lọc bụi tĩnh điện… và thiết bị xử lý khí độc như tháp xử lý SOx…
Với đặc tính nhiệt độ buồng đốt dưới 900oC, tạo được môi trường tốt nhất để không sinh ra các khí thải có hại như SOx, NOx. Lò hơi tầng sôi không yêu cầu phải có các thiết bị xử lý đắt tiền nhưng vẫn đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường khắt khe.

Các cụm sinh hơi
Giống như các lò hơi thông thường khác, lò tầng sôi cũng có các phần sinh hơi như tường nước, ống đối lưu, ống bức xạ… Các ống quá nhiệt có thể được bố trí ở khu vực buồng đốt trên cũng như ở khu vực đối lưu.
Nước cấp được bơm vào balong sau khi đi qua bộ hâm nước. Tại balong, nước tiếp tục theo các ống nước xuống để đến các ống góp dưới, sau đó đi lên qua các ống vách ướt, đối lưu và được gia nhiệt đến nhiệt độ bay hơi sau đó về lại balong. Ở balong hơi được tách ra và cấp đến khách hàng. Đối với các lò quá nhiệt, hơi tách ra tại balong sẽ tiếp tục đi qua các ống quá nhiệt để trở thành hơi quá nhiệt nhằm chạy tua bin hơi.
Trên đây là những nội dung chi tiết về cấu tạo nồi hơi tầng sôi mà Betech chia sẻ. Nếu quý khách hàng quan tâm đến lò hơi tầng sôi hoặc cần giải đáp thắc mắc xin vui lòng liên hệ với Lò hơi công nghiệp Betech để được hỗ trợ sớm nhất.
Cụm thu hồi nhiệt
Cụm thu hồi nhiệt lấy lại phần nhiệt còn trong khói thải trước khi khói ra ống khói, và là cụm quyết định hiệu suất tổng của lò.
Cụm này nằm trên đường khói phía sau buồng đốt, gồm bộ hâm nước và bộ sấy không khí.
Bộ hâm nước dùng nhiệt khói để nâng nhiệt độ nước cấp trước khi nước vào balong. Bộ sấy không khí cũng dùng nhiệt khói, nhưng để sấy nóng gió cấp vào lò. Gió vào nóng giúp nhiên liệu ẩm bắt lửa nhanh hơn, nên với lò đốt biomass thì bộ sấy không khí càng quan trọng.
Bỏ hai bộ này đi thì lò vẫn chạy, nhưng nhiệt độ khói ra ống khói sẽ cao và toàn bộ phần nhiệt đó mất trắng. Đây cũng là chỗ hay bị cắt bớt trong các báo giá rẻ, nên khi thẩm định hồ sơ nhà thầu, bạn nên kiểm tra riêng hạng mục này.
Dấu hiệu cụm thu hồi nhiệt xuống cấp là nhiệt độ khói thải đo tại ống khói tăng dần qua các tháng trong khi tải không đổi. Nguyên nhân thường gặp là bám tro trên bề mặt ống, làm giảm khả năng trao đổi nhiệt.
Hệ thống điều khiển và thiết bị an toàn
Đây là cụm duy nhất trong bảy cụm không trực tiếp tham gia vào quá trình cháy hay sinh hơi, nhưng lại là cụm quyết định lò có vận hành an toàn hay không.
Cụm này gồm tủ điều khiển đặt ngoài phòng vận hành, hệ cảm biến gắn rải trên thân lò, và các thiết bị an toàn lắp trực tiếp trên phần chịu áp lực.
Phần điều khiển theo dõi và tự động điều chỉnh các thông số chính: mực nước balong, áp suất hơi, nhiệt độ lớp sôi, chênh áp qua lớp sôi, lưu lượng gió cấp 1 và gió cấp 2, lưu lượng nhiên liệu. Riêng với lò tầng sôi, nhiệt độ lớp sôi và chênh áp qua lớp sôi là hai tín hiệu quan trọng nhất, vì chúng báo trước tình trạng kết xỉ sớm hơn mọi dấu hiệu khác.
Phần thiết bị an toàn gồm van an toàn, ống thuỷ báo mực nước, áp kế, và các khoá liên động cắt cấp liệu khi thông số vượt ngưỡng. Đây là nhóm bắt buộc theo quy định về an toàn nồi hơi, không phải tuỳ chọn.
Dấu hiệu cụm điều khiển có vấn đề thường là số đọc không khớp thực tế: nhiệt độ hiển thị đứng yên bất thường khi tải thay đổi, hoặc mực nước trên màn hình lệch với mực nước nhìn qua ống thuỷ. Khi gặp tình huống này, phải hiệu chuẩn lại cảm biến trước khi điều chỉnh bất cứ thứ gì khác.
2. Bộ phận nào của lò hơi tầng sôi hao mòn nhanh nhất?
Trong bảy cụm ở trên, không phải cụm nào cũng xuống cấp với tốc độ như nhau. Những chi tiết tiếp xúc trực tiếp với hạt rắn đang chuyển động là nhóm mòn trước, và cũng là nhóm nên có vật tư dự phòng trong kho.
| Bộ phận | Vì sao mòn hoặc hỏng |
|---|---|
| Béc phun gió | Va đập liên tục của hạt nền, làm việc ngay dưới lớp cát nóng |
| Chùm ống bức xạ ngâm trong lớp sôi | Tiếp xúc trực tiếp với hạt rắn chuyển động, tài liệu Betech ghi rõ tuổi thọ thấp |
| Vật liệu chịu lửa buồng đốt | Mài mòn cơ học do hạt rắn, cộng sốc nhiệt khi khởi động và dừng lò |
| Ống vách ướt vùng lớp sôi | Hạt nền va đập vào thành ống làm mỏng dần |
| Ghi phân phối gió | Cong vênh do nhiệt, làm béc lắp trên đó lệch hướng |
| Cyclone (chỉ lò CFB) | Dòng hạt rắn tốc độ cao bào mòn thành trong |
| Vít tải xỉ | Ma sát với tro xỉ nóng và có hạt cứng |
| Cánh quạt gió cấp 1 | Bụi mịn hút vào theo dòng khí |
3. Câu hỏi thường gặp về cấu tạo lò hơi tầng sôi
Lớp vật liệu nền trong buồng đốt tầng sôi làm bằng gì?
Lớp vật liệu nền phổ biến nhất là cát thạch anh. Một số thiết kế trộn thêm đá vôi hoặc dolomit để giữ lưu huỳnh ngay trong buồng đốt, giúp giảm SO₂ trong khói thải. Lớp vật liệu này không cháy, nó chỉ đóng vai trò tích và truyền nhiệt cho nhiên liệu vừa được cấp vào.
Béc phun gió của lò hơi tầng sôi có tác dụng gì?
Béc phun gió lắp trên ghi phân phối gió ở đáy buồng đốt, có hai nhiệm vụ. Thứ nhất là chia đều gió cấp 1 trên toàn tiết diện lớp nền để lớp vật liệu sôi đều. Thứ hai là chặn không cho hạt cát rơi ngược xuống buồng phân phối gió khi lò dừng.
Cấu tạo lò hơi tầng sôi tuần hoàn khác lò tầng sôi bọt ở chỗ nào?
Lò tầng sôi tuần hoàn (CFB) có thêm ba thiết bị mà lò tầng sôi bọt (BFB) không có: cyclone tách hạt rắn, siphon đóng vai trò van kín khí, và ống hồi liệu đưa hạt rắn trở lại buồng đốt. Buồng đốt lò CFB cũng cao và hẹp hơn buồng đốt lò BFB cùng công suất.
Lò hơi tầng sôi có bắt buộc phải có cyclone không?
Với lò tầng sôi tuần hoàn thì bắt buộc, vì cyclone là một mắt xích của vòng tuần hoàn hạt rắn, thiếu nó thì lò không hoạt động được. Với lò tầng sôi bọt thì cyclone không phải điều kiện để lò chạy, nhưng vẫn thường được lắp trên đường khói để tách bụi thô trước khi khói vào thiết bị lọc bụi tinh.
Tủ điều khiển lò hơi tầng sôi gồm những gì?
Tủ điều khiển tập hợp các mạch giám sát và điều chỉnh thông số vận hành: mực nước balong, áp suất hơi, nhiệt độ lớp sôi, chênh áp qua lớp sôi, lưu lượng gió và lưu lượng nhiên liệu. Riêng với lò tầng sôi, nhiệt độ lớp sôi và chênh áp qua lớp sôi là hai tín hiệu cần theo dõi sát nhất vì chúng báo trước hiện tượng kết xỉ.
4. Kết luận
Sơ đồ và bảy cụm thiết bị trong bài này có ba lúc dùng được ngay. Lúc nhận bàn giao lò mới, để đối chiếu xem nhà thầu đã lắp đủ hạng mục chưa, đặc biệt là cụm thu hồi nhiệt vốn hay bị cắt bớt trong báo giá rẻ. Lúc lập kế hoạch bảo trì, để biết kiểm tra chỗ nào trước. Và lúc xử lý sự cố, để lần ngược từ hiện tượng về đúng cụm thiết bị đang có vấn đề.
Nếu bạn cần tìm hiểu tiếp về nguyên lý hoạt động, phân loại và ưu nhược điểm, xem bài lò hơi tầng sôi là gì, nguyên lý và ứng dụng.
Betech là đơn vị chế tạo trực tiếp, tự thiết kế và gia công các cụm thiết bị nêu trong bài, nên có thể tư vấn cấu hình theo đúng loại nhiên liệu và nhu cầu hơi thực tế của nhà máy bạn.
